Các tác dụng phụ của việc tẩy trắng răng chết tủy
– Tiêu ngót chân răng vùng cổ
Theo Bahuguna và cộng sự (2013), tiêu ngót chân răng vùng cổ được định nghĩa là sự tiêu ngót mặt ngoài chân răng qua trung gian viêm, xảy ra sau chấn thương hoặc sau tẩy trắng răng từ bên trong.
Thuốc tẩy trắng sẽ thâm nhập vào thông qua các ống ngà, đi đến vùng cement cổ răng và dây chằng nha chu làm khởi phát phản ứng viêm.
Việc sử dụng Hydrogen Peroxide nồng độ cao cùng với việc hoạt hóa nó bằng nhiệt có thể gây ra tiêu ngót cổ chân răng.
Biến chứng này của tẩy trắng có thể tăng lên khi áp dụng kĩ thuật tẩy trắng được xúc tác bởi nhiệt lên một răng đã có khiếm khuyết cement vùng cổ trước đó.
Việc sử dụng Hydrogen Peroxide 30% độc lập hoặc trộn với Natri Perborate càng gây hại hơn cho các tế bào dây chằng nha chu so với trộn Natri Perborate với nước cất.
Hầu hết các trường hợp đều có chẩn đoán tiêu ngót chân răng vùng cổ sau vài năm điều trị tẩy trắng.
Biến chứng này có thể được quan sát thấy trên X quang thường quy, trong vài trường hợp có thể có sự hiện diện của sưng và nhạy cảm với gõ.
Theo Leith và cộng sự (2009), không có bằng chứng cho thấy tiêu ngót cổ răng xảy ra khi sử dụng Hydrogen Peroxide nồng độ thấp được xúc tác bằng nhiệt, như trong kĩ thuật tẩy trắng inside/ outside chẳng hạn.
Một ca lâm sàng được báo cáo bởi Kim và cộng sự (2012) cho thấy có tiêu ngót vùng cổ. Giải thích của các tác giả là do tổn thương cement cổ răng sau chấn thương và do sử dụng kĩ thuật tẩy trắng walking từ bên trong.
– Ảnh hưởng lên men răng
Việc tẩy trắng răng chết tủy có thể gây ra những thay đổi đáng kể trên bề mặt men răng. Mức độ thay đổi nhiều hay ít phụ thuộc vào nồng độ Peroxide được sử dụng và thời gian răng tiếp xúc với hóa chất.
Những ảnh hưởng lên men răng sau tẩy trắng được mô tả trong y văn bao gồm:
+ Tăng lỗ rỗ bề mặt men răng.
+ Mất khoáng.
+ Giảm hàm lượng protein.
+ Thoái hóa chất nền hữu cơ.
+ Thay đổi tỉ lệ Canxi : Photsphate, mất Canxi.
Những thay đổi về hình thái khác có thể xảy ra trên bề mặt men răng là lõm nhẹ và hơi xói mòn.
Sau khi tẩy trắng, bề mặt men răng sẽ nhám hơn. Răng sau tẩy trắng sẽ nhạy cảm hơn với các tác nhân màu từ bên ngoài. Hơn nữa, việc sử dụng Hydrogen Peroxide 35% làm răng giảm độ cứng và những thay đổi hình thái mô học men răng sẽ làm tăng nguy cơ sâu răng.
Giảm thời gian tiếp xúc của răng với Hydrogen Peroxide hoặc giảm nồng độ giúp giảm thiểu sự lan tỏa của Hydrogen Peroxide vào men và ngà.
Sự giảm độ cứng của men và ngà sau khi tẩy trắng bằng HP là do Oxi còn tồn tại ở men răng và ngà răng sau điều trị.
– Ảnh hưởng lên ngà răng
Theo Berger và cộng sự (2014), sự hiện diện của Canxi trong thành phần của thuốc tẩy trắng sẽ làm ảnh hưởng đến độ bền uốn của ngà răng sau tẩy trắng (HP 35% tẩy trắng tại phòng và HP 7.5% tẩy trắng tại nhà).
Pessarello và cộng sự (2012) đã thực hiện một nghiên cứu nhằm đánh giá độ bền uốn của hệ thống dán và composite lên ngà răng đã được tẩy trắng, và đưa ra kết luận rằng sự kết hợp giữa hệ thống dán được fluoride hóa và nhựa resin lỏng giúp làm cải thiện độ bền dán của ngà răng đã được tẩy trắng.
– Ảnh hưởng lên vật liệu phục hồi
Oxi được giải phóng vào cấu trúc răng sau tẩy trắng sẽ làm ngăn cản sự trùng hợp của nhựa. Việc sử dụng Carbamide Peroxide 10 – 16% sẽ làm nhám bề mặt, làm tăng độ lỗ rỗ của composite hạt độn nhỏ và composite lai.
Theo Bahannan và cộng sự (2015), ảnh hưởng của tác nhân tẩy trắng lên độ nhám bề mặt có thể thay đổi tùy theo nồng độ.
Carbamide Peroxide với nồng độ khác nhau không gây ảnh hưởng xấu đến độ bền uốn và độ kháng nứt gãy của composite. Ngoài ra, thuốc tẩy trắng tại phòng mạch (CP và HP 35%) không làm ảnh hưởng đến sức căng của composite. Độ cứng vi thể của composite nano và composite lai glass ionomer được giảm đáng kể khi sử dụng Carbamide Peroxide 20% hoặc 35%.
Các bác sĩ phải thông báo cho bệnh nhân biết những thay đổi có thể xảy ra do tác nhân tẩy trắng, dẫn đến làm ảnh hưởng tới những phục hồi đang tồn tại, khả năng cao phải thay thế chúng sau khi kết thúc điều trị tẩy trắng do sự khác biệt màu sắc, sự thay đồi bề mặt hay dưới bề mặt.
Đối với glass ionomer cement, sự đông cứng của cement này bị ức chế bởi lượng oxi còn sót lại. Do đó cần phải đợi ít nhất là 2 tuần sau khi hoàn tất việc tẩy trắng rồi mới sử dụng hệ thống vật liệu dán để trám phục hồi.
Theo Vohra và cộng sự (2013), tẩy trắng răng sử dụng Carbamide Peroxide 10% làm giảm đáng kể độ bền dán của composite với men răng. Ngoài ra, tác giả còn khuyến cáo nên sử dụng Natri Ascorbate 10% để tẩy trắng trong trường hợp cần phải trám lại bằng composite ngay sau khi kết thúc tẩy trắng.
Bôi Natri Ascorbate 10% lên răng trong vòng 10 phút là đủ có hiệu quả.
Theo Feiz và cộng sự (2017), việc sử dụng các tác nhân chống oxi hóa, bất kể là hình thức gì, loại gì, nồng độ hay thời gian sử dụng như thế nào cũng đều giúp cải thiện độ bền dán sau khi tẩy trắng.
Để hòa tan bớt lượng Peroxide còn sót lại, ta có thể làm sạch bằng catalase (catalase là 1 loại enzym có khả năng bẽ gãy phân tử Hydrogen Peroxide) hoặc sử dụng Natri Ascorbate 10%. Tuy nhiên việc này khá mất thời gian và tốn kém.
Bôi vecni bảo vệ lên bề mặt vật liệu trám có thể giúp hạn chế ảnh hưởng xấu của thuốc tẩy trắng lên miếng trám.
Khi thời gian bôi hỗn hợp thuốc Natri Perborate với Hydrogen Peroxide tăng lên thì nguy cơ rò rỉ từ xoang trám càng cao. Vì lí do này, người ta khuyến cáo nên sử dụng thuốc đặt trong thân răng là Canxi Hydroxide (7 ngày) sau khi điều trị bằng kĩ thuật tẩy trắng walking.
– Sức kháng gãy của răng đã tẩy trắng
Một nghiên cứu của Azevedo và cộng sự (2011) đánh giá sức kháng gãy của răng đã điều trị tẩy trắng từ bên trong răng và được trám tái tạo với nhiều hình thức khác nhau.
Các tác giả kết luận rằng răng đã được tẩy trắng có thể chỉ cần được tái tạo lại bằng composite, việc sử dụng chốt cho những răng này không giúp cải thiện sức kháng gãy.
Một nghiên cứu khác của Leonardo và cộng sự (2014), đánh giá sức kháng gãy của những răng đã được điều trị bằng tẩy trắng từ bên trong, sử dụng Hydrogen Peroxide 35%, Carbamide Peroxide 37%, Hydrogen Peroxide 15% với các hạt nano titan dioxide được kích hoạt bởi LED-laser hoặc Natri Perborate. Các tác giả kết luận rằng tất cả những bước trong thủ thuật đều làm giảm sức kháng gãy của các răng đã điều trị nội nha.
Ca lâm sàng
Ca lâm sàng 1
Bệnh nhân 17 tuổi than phiền về sự đổi màu R21. Tiền sử chấn thương. Hình thức điều trị được đề xuất là điều trị nội nha lại R21, tẩy trắng walking sử dụng bộ Endoperox (100% Carbamide Peroxide).











Ca lâm sàng 2
Bệnh nhân 29 tuổi than phiền vì R21 đổi màu. Tiền sử chấn thương. Phương pháp điều trị được đề xuất là điều trị nội nha răng 21, tẩy trắng walking sử dụng kit Endoperox (100% Carbamide Peroxide).





Ca lâm sàng 3
Bệnh nhân 64 tuổi than phiền về R11 đổi màu sau chấn thương. Kế hoạch điều trị là tẩy trắng walking sử dụng Natri Perborate với nước cất.





Ca lâm sàng 4
Bệnh nhân 32 tuổi than phiền về răng 11 đổi màu sau chấn thương. Kế hoạch điều trị là tẩy trắng walking sử dụng Natri Perborate pha với nước cất.




Tóm lại, tẩy trắng răng chết tủy có 3 kĩ thuật chính: walking, inside/outside và tẩy trắng tại phòng (in-office bleaching).
Các tác nhân tẩy trắng được sử dụng chủ yếu là: Natri Perborate, Hydrogen Peroxide và Carbamide Peroxide.
Sau khi tẩy trắng, nên đợi thời gian từ 1 – 3 tuần rồi mới trám kết thúc. Bác sĩ luôn phải báo trước cho bệnh nhân về nguy cơ tiêu ngót cổ răng sau điều trị. Theo dõi định kỳ và tẩy trắng lặp lại nếu cần thiết.
Xem lại phần 1 tại đây.
Nguồn: http://www.dentalnews.com/2018/04/04/bleaching-non-vital-discolored-teeth/

Related Posts
Phục hình cho răng đã điều trị nội nha – P1
Sử dụng composite lỏng trong nha khoa – P6
Thẩm mỹ và cơ học sinh học trong chỉnh nha – P12 – Đánh giá thẩm mỹ trong chỉnh nha