November 28, 2022

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Tẩy trắng răng đổi màu do chết tủy – P2

Các tác dụng phụ của việc tẩy trắng răng chết tủy

– Tiêu ngót chân răng vùng cổ

Theo Bahuguna và cộng sự (2013), tiêu ngót chân răng vùng cổ được định nghĩa là sự tiêu ngót mặt ngoài chân răng qua trung gian viêm, xảy ra sau chấn thương hoặc sau tẩy trắng răng từ bên trong.

Thuốc tẩy trắng sẽ thâm nhập vào thông qua các ống ngà, đi đến vùng cement cổ răng và dây chằng nha chu làm khởi phát phản ứng viêm.

Việc sử dụng Hydrogen Peroxide nồng độ cao cùng với việc hoạt hóa nó bằng nhiệt có thể gây ra tiêu ngót cổ chân răng.

Biến chứng này của tẩy trắng có thể tăng lên khi áp dụng kĩ thuật tẩy trắng được xúc tác bởi nhiệt lên một răng đã có khiếm khuyết cement vùng cổ trước đó.

Việc sử dụng Hydrogen Peroxide 30% độc lập hoặc trộn với Natri Perborate càng gây hại hơn cho các tế bào dây chằng nha chu so với trộn Natri Perborate với nước cất.

Hầu hết các trường hợp đều có chẩn đoán tiêu ngót chân răng vùng cổ sau vài năm điều trị tẩy trắng.

Biến chứng này có thể được quan sát thấy trên X quang thường quy, trong vài trường hợp có thể có sự hiện diện của sưng và nhạy cảm với gõ. Theo Leith và cộng sự (2009), không có bằng chứng cho thấy tiêu ngót cổ răng xảy ra khi sử dụng Hydrogen Peroxide nồng độ thấp được xúc tác bằng nhiệt, như trong kĩ thuật tẩy trắng inside/ outside chẳng hạn.

Một ca lâm sàng được báo cáo bởi Kim và cộng sự (2012) cho thấy có tiêu ngót vùng cổ. Giải thích của các tác giả là do tổn thương cement cổ răng sau chấn thương và do sử dụng kĩ thuật tẩy trắng walking từ bên trong.

– Ảnh hưởng lên men răng

Việc tẩy trắng răng chết tủy có thể gây ra những thay đổi đáng kể trên bề mặt men răng. Mức độ thay đổi nhiều hay ít phụ thuộc vào nồng độ Peroxide được sử dụng và thời gian răng tiếp xúc với hóa chất.

Những ảnh hưởng lên men răng sau tẩy trắng được mô tả trong y văn bao gồm:

+ Tăng lỗ rỗ bề mặt men răng.

+ Mất khoáng.

+ Giảm hàm lượng protein.

+ Thoái hóa chất nền hữu cơ.

+ Thay đổi tỉ lệ Canxi : Photsphate, mất Canxi.

Những thay đổi về hình thái khác có thể xảy ra trên bề mặt men răng là lõm nhẹ và hơi xói mòn.

Sau khi tẩy trắng, bề mặt men răng sẽ nhám hơn. Răng sau tẩy trắng sẽ nhạy cảm hơn với các tác nhân màu từ bên ngoài. Hơn nữa, việc sử dụng Hydrogen Peroxide 35% làm răng giảm độ cứng và những thay đổi hình thái mô học men răng sẽ làm tăng nguy cơ sâu răng.

Giảm thời gian tiếp xúc của răng với Hydrogen Peroxide hoặc giảm nồng độ giúp giảm thiểu sự lan tỏa của Hydrogen Peroxide vào men và ngà.

Sự giảm độ cứng của men và ngà sau khi tẩy trắng bằng HP là do Oxi còn tồn tại ở men răng và ngà răng sau điều trị.

– Ảnh hưởng lên ngà răng

Theo Berger và cộng sự (2014), sự hiện diện của Canxi trong thành phần của thuốc tẩy trắng sẽ làm ảnh hưởng đến độ bền uốn của ngà răng sau tẩy trắng (HP 35% tẩy trắng tại phòng và HP 7.5% tẩy trắng tại nhà).

Pessarello và cộng sự (2012) đã thực hiện một nghiên cứu nhằm đánh giá độ bền uốn của hệ thống dán và composite lên ngà răng đã được tẩy trắng, và đưa ra kết luận rằng sự kết hợp giữa hệ thống dán được fluoride hóa và nhựa resin lỏng giúp làm cải thiện độ bền dán của ngà răng đã được tẩy trắng.

– Ảnh hưởng lên vật liệu phục hồi

Oxi được giải phóng vào cấu trúc răng sau tẩy trắng sẽ làm ngăn cản sự trùng hợp của nhựa. Việc sử dụng Carbamide Peroxide 10 – 16% sẽ làm nhám bề mặt, làm tăng độ lỗ rỗ của composite hạt độn nhỏ và composite lai.

Theo Bahannan và cộng sự (2015), ảnh hưởng của tác nhân tẩy trắng lên độ nhám bề mặt có thể thay đổi tùy theo nồng độ.

Carbamide Peroxide với nồng độ khác nhau không gây ảnh hưởng xấu đến độ bền uốn và độ kháng nứt gãy của composite. Ngoài ra, thuốc tẩy trắng tại phòng mạch (CP và HP 35%) không làm ảnh hưởng đến sức căng của composite. Độ cứng vi thể của composite nano và composite lai glass ionomer được giảm đáng kể khi sử dụng Carbamide Peroxide 20% hoặc 35%.

Các bác sĩ phải thông báo cho bệnh nhân biết những thay đổi có thể xảy ra do tác nhân tẩy trắng, dẫn đến làm ảnh hưởng tới những phục hồi đang tồn tại, khả năng cao phải thay thế chúng sau khi kết thúc điều trị tẩy trắng do sự khác biệt màu sắc, sự thay đồi bề mặt hay dưới bề mặt. Đối với glass ionomer cement, sự đông cứng của cement này bị ức chế bởi lượng oxi còn sót lại. Do đó cần phải đợi ít nhất là 2 tuần sau khi hoàn tất việc tẩy trắng rồi mới sử dụng hệ thống vật liệu dán để trám phục hồi.

Theo Vohra và cộng sự (2013), tẩy trắng răng sử dụng Carbamide Peroxide 10% làm giảm đáng kể độ bền dán của composite với men răng. Ngoài ra, tác giả còn khuyến cáo nên sử dụng Natri Ascorbate 10% để tẩy trắng trong trường hợp cần phải trám lại bằng composite ngay sau khi kết thúc tẩy trắng.

Bôi Natri Ascorbate 10% lên răng trong vòng 10 phút là đủ có hiệu quả.

Theo Feiz và cộng sự (2017), việc sử dụng các tác nhân chống oxi hóa, bất kể là hình thức gì, loại gì, nồng độ hay thời gian sử dụng như thế nào cũng đều giúp cải thiện độ bền dán sau khi tẩy trắng.

Để hòa tan bớt lượng Peroxide còn sót lại, ta có thể làm sạch bằng catalase (catalase là 1 loại enzym có khả năng bẽ gãy phân tử Hydrogen Peroxide) hoặc sử dụng Natri Ascorbate 10%. Tuy nhiên việc này khá mất thời gian và tốn kém.

Bôi vecni bảo vệ lên bề mặt vật liệu trám có thể giúp hạn chế ảnh hưởng xấu của thuốc tẩy trắng lên miếng trám.

Khi thời gian bôi hỗn hợp thuốc Natri Perborate với Hydrogen Peroxide tăng lên thì nguy cơ rò rỉ từ xoang trám càng cao. Vì lí do này, người ta khuyến cáo nên sử dụng thuốc đặt trong thân răng là Canxi Hydroxide (7 ngày) sau khi điều trị bằng kĩ thuật tẩy trắng walking.

– Sức kháng gãy của răng đã tẩy trắng

Một nghiên cứu của Azevedo và cộng sự (2011) đánh giá sức kháng gãy của răng đã điều trị tẩy trắng từ bên trong răng và được trám tái tạo với nhiều hình thức khác nhau. Các tác giả kết luận rằng răng đã được tẩy trắng có thể chỉ cần được tái tạo lại bằng composite, việc sử dụng chốt cho những răng này không giúp cải thiện sức kháng gãy.

Một nghiên cứu khác của Leonardo và cộng sự (2014), đánh giá sức kháng gãy của những răng đã được điều trị bằng tẩy trắng từ bên trong, sử dụng Hydrogen Peroxide 35%, Carbamide Peroxide 37%, Hydrogen Peroxide 15% với các hạt nano titan dioxide được kích hoạt bởi LED-laser hoặc Natri Perborate. Các tác giả kết luận rằng tất cả những bước trong thủ thuật đều làm giảm sức kháng gãy của các răng đã điều trị nội nha.

 

Ca lâm sàng

Ca lâm sàng 1

Bệnh nhân 17 tuổi than phiền về sự đổi màu R21. Tiền sử chấn thương. Hình thức điều trị được đề xuất là điều trị nội nha lại R21, tẩy trắng walking sử dụng bộ Endoperox (100% Carbamide Peroxide).

 

Hình 1. Đổi màu răng 21 đã chết tủy.

 

Hình 2. Phim quanh chóp cho thấy điều trị nội nha không tốt.

 

Hình 3. Kết quả điều trị nội nha lại răng 21.

 

Hình 4. Cách ly răng bằng đê cao su.

 

Hình 5. Khoảng cách từ CEJ đến rìa cắn được đo bằng cây thăm dò nha chu.

 

Hình 6. Với kết quả đo khoảng cách từ CEJ và rìa cắn ở trên, cây thăm dò được đặt lại 1 lần nữa để có độ chính xác cao hơn.

 

Hình 7. Loại bỏ bớt gutta percha trong ống tủy bằng mũi khoan tròn, cán dài bên dưới CEJ và đặt 1 lớp bảo vệ vùng cổ răng bằng GIC với độ dày khoảng 2 mm để bảo vệ vùng dây chằng nha chu nhằm tránh ảnh hưởng từ sự khuếch tán của thuốc tẩy trắng.

 

Hình 8. Sử dụng Acid Phosphoric 37% để loại bỏ lớp mùn ngà từ bề mặt các ống ngà trong buồng tủy.

 

Hình 9. Thuốc tẩy trắng Endoperox (100% Carbamide Peroxide). Một bộ gồm có: 1 lọ bột 5g, 1 lọ glycerol 5 ml và 1 thìa đong.

 

Hình 10, 11 và 12. Trộn thuốc bằng 2 muỗng đầy bột và 1 giọt glycerol để được hỗn hợp đồng nhất, sau đó cho hỗn hợp này vào buồng tủy.

 

Hình 13. R21 sau tẩy trắng 1 tuần.

 

Ca lâm sàng 2

Bệnh nhân 29 tuổi than phiền vì răng 21 đổi màu. Tiền sử chấn thương. Phương pháp điều trị được đề xuất là điều trị nội nha răng 21, tẩy trắng walking sử dụng kit Endoperox (100% Carbamide Peroxide).

Hình 14. Hình ảnh trước điều trị R21 cho thấy sự đổi màu do chết tủy, nguyên nhân chấn thương.

 

Hình 15. Phim quanh chóp trước khi răng được điều trị nội nha.

 

Hình 16. Phim quanh chóp sau khi răng được điều trị nội nha.

 

Hình 17. Trám bít ống tủy bằng hệ thống Herofill.

 

Hình 18. Hình ảnh lâm sàng R21 sau 1 tuần tẩy trắng bằng kĩ thuật walking.

 

Ca lâm sàng 3

Bệnh nhân 64 tuổi than phiền về răng 11 đổi màu sau chấn thương. Kế hoạch điều trị là tẩy trắng walking sử dụng Natri Perborate với nước cất.

Hình 19. Hình ảnh lâm sàng R11 bị đổi màu do chấn thương trước khi thực hiện điều trị.

 

 

Hình 20. Phim X quang.

 

Hình 21. Lỗ mở tủy sau khi loại bỏ bớt khoảng 2 mm gutta percha dưới đường CEJ.

 

Hình 22. Thuốc tẩy trắng được sử dụng là Natri Perborate trộn với nước cất. Sau đó trám tạm Cavit lên.

 

Hình 23. Kết quả tẩy trắng sau 1 tháng, lỗ mở tủy được trám kết thúc bằng composite.

 

Ca lâm sàng 4

Bệnh nhân 32 tuổi than phiền về răng 11 đổi màu sau chấn thương. Kế hoạch điều trị là tẩy trắng walking sử dụng Natri Perborate pha với nước cất.

Hình 24. Hình ảnh R11 trước điều trị.

 

Hình 25. Phim quanh chóp sau điều trị nội nha.

 

Hình 26. Kết quả tẩy trắng với Natri Perborate sau 2 lần đặt thuốc.

 

Hình 27. Kết quả tẩy trắng sau 1 tháng, răng đã được trám kết thúc bằng composite.

 

Tóm lại, tẩy trắng răng chết tủy có 3 kĩ thuật chính: walking, inside/outside và tẩy trắng tại phòng (in-office bleaching). Các tác nhân tẩy trắng được sử dụng chủ yếu là: Natri Perborate, Hydrogen Peroxide và Carbamide Peroxide. Sau khi tẩy trắng, nên đợi thời gian từ 1 – 3 tuần rồi mới trám kết thúc. Bác sĩ luôn phải báo trước cho bệnh nhân về nguy cơ tiêu ngót cổ răng sau điều trị. Theo dõi định kỳ và tẩy trắng lặp lại nếu cần thiết.

Xem lại phần 1 tại đây.

 

Nguồn: http://www.dentalnews.com/2018/04/04/bleaching-non-vital-discolored-teeth/